Sự tích công chúa Liễu Hạnh

Sự tích công chúa Liễu Hạnh

  • 05:54 19/04/2020
  • Xếp hạng 4.8/5 với 8 phiếu bầu
 Sự tích công chúa Liễu Hạnh kể về một trong những đại diện đạo Mẫu ở Việt Nam là một trong tứ bất tử của Việt (Sơn Tinh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh). Vậy Công chúa Liễu Hạnh là nhân vật lịch sử nào, chúng ta hãy cùng đọc truyền thuyết và giai thoại về bà nhé!
 
Ngày xưa, ở trên thiên đình có một người con gái là Liễu Hạnh là con gái của Ngọc Hoàng. Tính tình cô phóng túng ngang bướng, không bao giờ nghe theo khuôn phép nhà trời. Ngọc Hoàng hết lòng dạy dỗ nhưng vô ích, cô chứng nào vẫn giữ tật ấy, không chịu thay đổi. Giận vì trong nhà có con gái hư không thể làm vì cho thiên hạ, Ngọc Hoàng quyết trị tội để cho con gái nhận ra mà tu tỉnh. Nhân một lần Liễu Hạnh phạm lỗi, Ngọc Hoàng bèn đày nàng xuống trần trong sống ba năm. Sau khi xuống trần, Liễu Hạnh biến thân thành một cô gái đẹp, xinh xắn, dựng một cái quán ở chân núi đèo Ngang. Đây là nơi núi rừng,hẻo lánh ít người qua lại nhưng cũng là nơi con đường thiên lý từ Bắc vào Nam vắt qua, nên hàng ngày không bao giờ ngớt bộ hành đi lại. Từ xưa đến nay, vì sợ giặc cướp và thú dữ, không ai dám đến đó mở quán bán hàng ở dưới chân núi. Vì vậy ngôi hàng độc nhất của Liễu Hạnh ngày nào cũng đông khách đến nghỉ ngơi. Bất kỳ ai lên đèo hoặc xuống đèo, đã đi qua quán không thể không ghé lại nghỉ chân, huống gì trong quán lại còn có một cô gái xinh đẹp, tuyệt sắc.

Từ khi bị đày xuống trần gian, Liễu Hạnh vẫn chưa bỏ được nết cũ, khinh mạn và luôn luô trêu chọc mọi người. Vậy nên, những ai vào quán của cô ăn bánh uống nước rồi tiếp tục ra đi thì không sao. Nhưng hễ thấy chủ quán xinh đẹp mà giở thói cợt nhả, không coi cô ra gì hoặc có ý cậy sức, cậy thế, cậy thần làm điều bất chính thì nàng quyết trị tội không tha: lúc trở về những người đó nếu không lăn ra chết cũng trở thành điên rồ ngây dại.
 
Sự tích công chúa Liễu Hạnh
 

Thời đó là vua Lê Thái Tổ đang trị vì đất nước. Tin tức về một cô gái đẹp một mình mở quán ở đèo Ngang không mấy chốc lan truyền khắp trốn. Khắp nơi bàn tán xôn xao về người con gái có khuôn mặt xinh đẹp. Người thì nói chủ quán là một cô gái giỏi về võ nghệ, mình nàng đánh nổi trăm người một lúc. Kẻ thì cho cô là một ả giang hồ thành thạo, không những giỏi quyến rũ trai tơ mà luôn luôn làm những công việc từ thiện. Cũng có người cho cô là một nàng tiên xuống sống thử với người phàm trần. Mỗi người nói một ý không biết thế ai nói đúng, nói sai. Nhưng tiếng đồn xa gần về cô chủ quán đèo Ngang cũng thu hút vô số chàng trai đến để gặp mặt cô. Hoàng tử con vua Lê bấy giờ đang trẻ người non dạ, nghe tin ấy bụng cũng  say mê, thắm thiết. Hoàng tử muốn sai ngay quân lính đi bắt người con gái về cung của mình, nhưng vốn biết tính vua cha rất nghiêm khắc, làm náo động cả triều đình là chuyện không bao giờ nhà vua cho phép. Vả lại nghe nói người con gái ấy đã giỏi võ nghệ lại có nhiều phép thuật nên cũng do dự, ngần ngại.

Sau cùng lòng ao ước và trí tò mò đã làm hoàng tử rời khỏi cung. Một ngày, hoàng tử trốn vua cha và hoàng hậu, sắm sửa dụng cụ, hành lý, đóng vai một nhà quý tộc trẻ tuổi dẫn đoàn thị vệ cải trang ra đi. Sau hơn mười ngày đường vất vả, hoàng tử vượt qua sông Lam, rồi núi Nam-giới, và sắp bước chân lên đèo cao nhất.

Từ trên đèo Ngang, công chúa Liễu Hạnh đã biết có hoàng tử đến tìm mình, lại cũng biết đó là một hoàng tử là một chàng trai tầm thường, không có bản lĩnh gì, nhưng lại kiêu căng, hống hách không coi ai ra gì. Để không muốn gặp hoàng tử, nàng hóa phép thành một cây đào tiên mọc ở vệ đường, chỗ hoàng tử đang nghỉ chân; trên cây có một quả đào chín mọng rất to. Hoàng tử vừa chợt thấy quả đào đã muốn ăn, bèn không đợi sai lính hầu, vội trèo lên hái xuống ăn ngay. Quả đào đangbình thường, bỗng đâu khi sắp bỏ vào miệng thì trở nên mềm nhũn trên tay hoàng tử, rồi thu nhỏ, cuối cùng mất biến mất trước sự khó tin của hoàng tử. "Quả đào này có ma?". Bọn thị vệ kinh hãi la lên và khuyên hoàng cẩn thận đề phòng. Hoàng tử cũng cảm thấy sợ hãi, rờn rợn trong người. Nhưng vì vẫn không thể hiểu được ý nghĩa răn đe kín đáo của công chúa Liễu Hạnh, nên một chốc sau hoàng tử lại giục cho quân lính đến chân đèo.

Khi giáp mặt công chúa Liễu Hạnh quả nhiên cả hoàng tử và quân lính đều thảng thốt sững sờ. Chưa bao giờ hoàng tử lại thẫn thờ đến như thế. Người con gái này có nhan sắc xinh đẹp, kiều diễm đúng như lời đồn, trong cung đình vua cha các cung nữ không có người nào sánh kịp. Hoàng tử bèn kín đáo hạ lệnh cho binh lính dừng chân ở quán, lân la hết ăn đến uống kéo dài đến tận chiều tối, rồi khi mặt trời gần lặn, bảo với chủ nhân:

- Đường xa trời tối. Chúng ta muốn tá túc ở đây một đêm. Chẳng hay bà chủ có bằng lòng không?

Liễu Hạnh đã hiểu rõ tâm tư của hoàng tử, bèn từ chối:

- Thưa công tử, chúng tôi ở đây hàng quán nhỏ bé, chật chội, vả lại chỉ có mấy chị em là đàn bà con gái, ở đây không tiện. Cách gần đây nửa dặm về phía Đông một ngôi làng. Các vị đến đó trú sẽ có sẵn người phục vụ.

- Chúng ta chỉ cần nghỉ ngơi một đêm ở đây thôi!Bà chủ đừng lo. Chỉ cần một góc nhỏ trong quán để căng màn là đủ. Ngoài ra xin hứa là không làm gì phiền đến bà chủ cả.

- Nếu thế thì công tử cứ tùy tiện ở lại.

Tối lại, mọi người ăn cơm xong sửa soạn chuẩn bị đi ngủ. Những phu cáng và lính hầu trải chiếu nằm la liệt giữa sân ngoài cửa. Riêng hoàng tử đã có hai thị vệ căng màn trướng ngủ ở trong quán trọ. Trời mùa hè mát mẻ, trăng gió hữu tình nên thơ. Dưới ánh đèn dầu, hoàng tử dựa cột trò chuyện với bà chủ quán không rời. Công chúa Liễu Hạnh vẫn chịu khó ngồi nán lại tiếp, tiếp tục câu truyện. Mỗi lời nói của nàng đều đẹp lòng khách làm cho hoàng tử càng thêm mê hồn say đắm này. Chàng quên mất lời hứa, đánh rơi cả vẻ đạo mạo lúc mới tới và bắt đầu tả lơi, bắt chuyện.Công chúa Liễu Hạnh cự tuyệt và chạy vào buồng. Trong cơn si mê say đắm, hoàng tử không cần gì thể diện nữa, bèn chạy theo công chúa Liễu Hạnh. Có ngờ đâu chỉ trong nháy mắt, Liễu Hạnh đã biến hình, đi lên núi bắt một con khỉ cái về cho biến thành một cô gái đẹp để đánh lừa hoàng tử. Không thấy bà chủ quán đâu nhưng thấy một cô gái khác trong buồng, hoàng tử liền cầm lấy tay dắt tới trước đèn. Nhìn thấy cô gái này cũng đẹp không kém gì cô chủ, hoàng tử liền giở trò suồng sã, đồ bại của mình. Nhưng bỗng chốc cô gái rú lên một cách dễ sợ làm cho bọn lính hầu đều tỉnh hết dậy dậy. Trong tay hoàng tử không phải là một cô gái nõn nà như vừa nãy nữa mà là một con khỉ cái lông lá đầy người. Bọn lính hầu tiến lại gần. Vụt một cái, con khỉ lại biến thành một con rắn hổ mang hoa từ trên người hoàng tử vươn lên kèo nhà, há miệng phun lửa, rồi tự biến mất. Khi bọn lính hầu thắp được đèn lên thì hoàng tử đã ngã vật ra quán hôn mê vì bị hoảng sợ.

Nửa đêm hôm đó người ta đưa hoàng tử về kinh thành. Về đến cung, hoàng tử trở nên mất trí nhớ, chỉ cười nói một mình, ai hỏi cũng không trả lời. Hoàng hậu và phi tần hết sức sợ hãi. Một mặt, Hoàng hậu cho giấu kín chuyện "vi hành" khinh suất đó, và cho mời các bậc ngự y và thầy thuốc giỏi khắp kinh thành đến thăm khám hoàng tử. Tuy nhiên, các danh sư được đón vào chữa chạy cho hoàng tử đều lắc đầu bó tay, không cách nào chữa được. Trong cung càng thêm bối rối, lo âu. Sau cùng, có người mách nên vào xứ Thanh xin bùa phép ở tám vị Kim Cang họa may mới khỏi bệnh của hoàng tử.

Lại kể chuyện một ngàn năm về trước, Phật bà Quan âm hiện hiện ở biển Đông hóa phép thành hai cái túi: một nổi lên ở giữa biển, còn một cái ở trên núi Ói làng An-đông xứ Thanh. Sau một thời gian lâu dài, hai cái túi nở ra hai đóa hoa , và từ trong mỗi đóa hoa hiện ra bốn vị tướng có phép biến hóa cực kỳ huyền diệuhuyền diệu. Theo lệnh của Phật bàQuan Âm, tám vị tướng thân chinh đi tám phương đánh dẹp tà ma quỷ quái độc ác, quấy nhiễu. Dẹp xong, Phật bà gọi họ trở về ở lại chỗ cũ. Người ta thường gọi là Bát bộ Kim Cang.

Ngay lập tức bọn quân lính, thị vệ được lệnh vua vào Thanh-hóa để xin bùa phép của tám vị Kim Cang. Nhờ có bùa phép, hoàng tử dần dần hồi sức khỏi bệnh. Sau khi bình phục, hoàng tử nhận tội với vua cha, và kể lại cho vua nghe toàn bộ câu chuyện gặp gỡ giữa mình với bà chủ quán ở đèo Ngang. Vua Thái Tổ hết sức tức giận, vì hoàng tử đã dám coi thường lệnh vua, bỏ phủ đi chơi, hãm mình vào cảnh thân tàn ma dại, nên lập con thứ lên thay và xuống chiếu cất ngôi hoàng tử. Nhưng vua còn hết sức giận dữ vì ở trên đất nước mình trị vì lại có một người con gái dám khinh nhờn phép vua. Vua bèn hạ lệnh gọi quan trấn thủ xứ Nghệ hỏi về lai lịch nữ chủ quán đèo Ngang. Sau một thời gian cho người cất công dò la thám thính, quan trấn thủ mới gửi sớ về tâu vua, trong sớ nói đó là một nữ yêu không biết từ đâu đến, hay bắt hồn đàn ông con trai, nếu không có phép thuật tài cao thì khó lòng mà khuất phục.

Vua lại lệnh cho với các pháp sư phù thủy giỏi, cao tay để đi trừ yêu. Nhưng lần lượt họ đã trở về triều xin chịu tội vì chẳng những không trị nổi yêu mà mọi phép giở ra đều bị Liễu Hạnh thu phục. Vua lại đành phải nghĩ cách cầu cứu tám vị Kim Cang. Nhận lời vua, tám vị đến đèo Ngang nơi công chúa Liễu Hạnh đang sống. Được tin không lành, Liễu Hạnh ra ứng chiến. Cuộc chiến đấu dần dần trở lên dữ dội gay cấn. Lúc đầu Tám vị Kim Cang làm một trận bão lớn, mưa to liên tục gió giật khủng khiếp, cây đổ như ngả rạ, nước tràn vào vây lấy đèo Ngang. Liễu Hạnh cũng hóa phép chống lại sức mạnh của tám vị Kim Cang. Công chúa làm cho cây rừng đã đổ lại đứng dậy như trước cùng với đất đá bay rào rào vào kẻ thù. Thấy Liễu Hạnh pháp thuật cao cường, tám vị Kim Cang lại hóa phép thành thú dữ tập hợp nhe nanh múa vuốt xông thẳng vào nhằm xé cắn, nhưng Liễu Hạnh đã kịp thời bay lên cao, rồi dùng phép để tiêu diệt hết bầy mãnh thú.

Trận đánh ác liệt diễn ra ba ngày ba đêm. Đèo Ngang trở thành một bãi chiến trường rùng rợn, hoang vu. Mọi phép thuật của hai bên tung ra lần lượt mà chưa phân thắng bại. Về sau tám vị Kim Cang biết mình không thắng lại, bèn bay lên trời cầu khẩn Phật bà. Phật bà đưa cho tám vị một cái túi. Nhờ đó nên cuối cùng công chúa Liễu Hạnh sa vào túi của Phật bà Quan Âm. Tám vị Kim Cang mang túi về kinh báo lên vua.

Vua lập tức ra sân điện tra hỏicông chúa.

- Ngươi là ai?

- Tâu bệ hạ, là con gái Ngọc Hoàng bị đày xuống trần gian, lấy vùng đèo Ngang làm nơi trú ngụ sinh sống.

- Là con gái Ngọc Hoàng sao lại quấy rối và làm hại hoàng tử con ta?

- Việc trừng trị bọn con trai làm nhục nữ nhi, ăn hiếp người cô đơn là tuân theo phép nước, không phải phạm phép nước.

Thấy Liễu Hạnh nói là con Ngọc Hoàng, lại thấy nàng đối đáp hợp lí, vua đổi giận làm vui. Cho nên sau cuộc thẩm vấn, vua hạ lệnh tha bổng, chỉ khuyên nàng đừng gây hại cho dân làng.

Ít lâu sau công chúa Liễu Hạnh sinh một người con trai, mỗi bàn tay có sáu ngón, nàng mang con đến ngôi chùa trên núi Hồng-lĩnh gửi cho một nhà sư dạy dỗ, dặn nhà sư hãy giúp cho con mình được lừng danh trong nước. Và đủ ba năm công chúa Liễu Hạnh trở về trời.

Nhưng không bao lâu Liễu Hạnh lại bị Ngọc Hoàng đày xuống trần gian thêm một lần nữa. Lần này Liễu Hạnh đến đèo Ba-dội cũng là nơi vắng vẻ hoang vu, rồi mở ra một quán gọi là lầu ba tầng, bốn bên có thành bao bọc. Trong thành có vườn, đủ các thứ hoa thơm cỏ lạ đầy đủ mọi thứ. Trong vườn tập hợp đủ các giống chim. Cạnh vườn có ao, thả đủ các giống cá đẹp quý hiếm. Hàng ngày nàng sai mở cửa cho khách bộ hành đi qua về lại được tự do vào nghỉ chân và nhìn ngắm thoải mái. Ở đây có quán xá, và cũng như lần trước, công chúa Liễu Hạnh thường biến thân thành cô gái bán hoa quả, quà bánh, trầu nước và đồ chơi. Ai ăn uống mua bán rồi đi thì không sao, nếu giở chuyện trộm cướp trăng hoa, lập tức bị nàng trừng trị một cách thỏa đáng.

Ở đây sinh sống được mấy năm, Liễu Hạnh lại sinh một con trai thứ hai. Đứa bé thiếu mất một ngón ở cả hai bàn tay. Nàng đem con gửi người con thứ hai cho một sư nữ ở chùa Bà-đỏ, bảo sư rằng:

- Ta hai lần xuống trần đẻ được hai người con, cũng định cho chúng trở thành vương giả nhưng không đạt, vì một đứa quá thừa, một đứa lại quá thiếu. Hãy làm cho nó nổi tiếng, ít nhất cũng trở thành Trạng Nguyên.

Rồi đó, hết hạn ở trần gian. Liễu Hạnh đốt tất cả quán xá mà trở về trời.

Những đứa con của Liễu Hạnh về sau quả nhiên trở thành người nổi tiếng, trong đó có một người tên là Trạng Quỳnh. Chỗ di tích ngôi đền của Liễu Hạnh xây lên ở xứ Thanh và ở xứ Nghệ, người ta dựng thành đền thờ công chúa Liệu Hạnh  trên núi cao. Không có một ai dám động vào các vật trên mộ, vì sợ Liễu Hạnh báo thù.Nguồn truyện tại truyencotich.fun

KHẢO DỊ

Truyện Liễu Hạnh từ lâu đã được nho sĩ cải biến thành một truyện đượm màu sắc tôn giáo và nho hóa khác với truyện dân gian, mặc dầu cho đến nay, truyện kể trong dân gian cũng đã ít nhiều biến đổi về chủ đề: các hình tượng và tình tiết đã được cắt xén, sàng lọc.

Theo Thính văn dị lục và một số thần tích thì Liễu Hạnh là con gái Ngọc Hoàng, vì đánh vỡ chén ngọc bị giáng xuống trần đầu thai ở nhà Lê Thái Công, xã Vân-cát (Nam-định) mang tên là Giáng Tiên. Lớn lên làm con nuôi một viên quan hưu họ Trần, được học hành nên có tài văn chương, giỏi đàn sáo. Năm mười tám tuổi lấy chồng là Đào lang, con một viên quan ở làng. Được ba năm hết hạn đày không bệnh mà chết, để lại cho chồng một trai, một gái. Nhưng vì "trần duyên chưa dứt", Ngọc Hoàng lại cho xuống trần, lần này với phép biến hóa huyền diệu. Nàng gặp lại bố mẹ và chồng con, nhưng sau đó lại bỏ đi, tính tình phóng túng, tung tích vô định: khi làm cô gái thổi sáo, khi hóa bà già chống gậy, ẩn hiện bất thường. Ở Lạng-sơn, nàng làm thơ ghẹo nho sĩ, ở hồ Tây làm cô hàng rượu ngâm vịnh và dự tiệc với các ông Phùng Khắc Khoan, họ Ngô, họ Lý, v.v... Lại vào Nghệ-an kết duyên với người học trò, thường ngày thơ ca xướng họa với chồng, sau sinh được một trai, rồi lại trở về trời.

Sau ba năm nhớ cõi trần, Liễu Hạnh lại xin vua cha cho xuống trần một lần nữa. Lần này có đem theo hai người thị nữ. Họ trú ngụ ở phố Cát (Thanh-hóa) về sau được dân địa phương ở đây lập đền thờ. Triều đình sau một thời kỳ sai thuật sĩ tiễu trừ mà không xong, đành thừa nhận và sắc phong là Mã hoàng công chúa.

Sách vở của phái Nội đạo tràng miêu tả cuộc chiến tranh giữa Tiền quan với Liễu Hạnh như sau:

Khi đày Liễu Hạnh xuống trần, Ngọc Hoàng thấy chân bên tả của con đi dón gót, biết là xuống dưới ấy sẽ thành yêu, liền sai Tiền quan giáng sinh luôn để kịp thời ngăn chặn.

Có thói tàn nhẫn, Liễu Hạnh đi đến đâu gặp điều không vừa ý thì ra tay sát hại. Cho nên ở đâu nàng cũng làm cho người và vật tử thương. Thành hoàng phải "xuất ngoại". Người ta sợ nàng đến nỗi bỏ công ăn việc làm, ban ngày đóng cổng không dám lên tiếng hoặc phải bày đàn ở ven đường cúng lễ.

Về sau đến Sùng-sơn (Thanh-hóa) thấy cảnh đẹp, Liễu Hạnh báo mộng cho hào trưởng vùng ấy phải lập cung miếu. Thấy họ còn dùng dằng, nàng làm cho trong năm ngày chết hơn một nửa dân. Khi cung miếu dựng xong, nàng thường hoá thành gái đẹp bán hàng, hễ bọn trai trẻ và nho sĩ trêu ghẹo thì tâu về triều. Vua sai các vị pháp sư nổi tiếng đến trị, nhưng họ không trở về được. Có lần chúa Trịnh vào Lam-sơn. Liễu Hạnh cùng bộ hạ đón đường quấy phá. Chúa trở về giận lắm, sai người mời tất cả pháp sư phù thủy và hội tất cả thành hoàng vào đánh nhưng họ chỉ chuốc lấy thất bại.

Lại nói chuyện vị Tiền quan được giáng sinh làm con trai thứ ba một vị Thượng sư - là tổ sư phái Nội đạo tràng - cả ba anh em đều được Phật tổ truyền cho phép thuật, hai anh là Tả quan và Hữu quan tu tại Côn-sơn, còn Tiền quan thì ở ngay lại làng quê, tức là làng Từ-minh (Thanh-hóa) luyện đạo và truyền đạo cho học trò. Sau lần thất bại của các pháp sư phù thủy, nhà vua sai sứ đi triệu Tiền quan về kinh phong làm Thượng tướng cầm ba vạn quân đi đánh Liễu Hạnh.

Đến Tam-điệp. Tiền quan sai đóng quân lại, còn mình thì cải trang làm dân thường, cưỡi ngựa trắng tìm đến Sùng-sơn. Gặp Liễu Hạnh, Tiền quan làm bộ thân mật: - "Ta báo cho biết sắp sửa có nạn lớn vì nàng đã trêu chọc vua chúa. Họ sắp cử đến đây một pháp sư cao cường. E rằng nàng không địch nổi, nên ta đến xem nàng có phép gì, nêu thiếu ta sẽ dạy cho". Liễu Hạnh không ngờ gì cả, giở tất cả ba ngàn phép cho khách xem. Tiền quan hết lời ca ngợi, nói: - "Như thế này thì không cần phải học gì nữa". Khi Tiền quan về rồi, Liễu Hạnh mới biết là mình bị mắc mưu, nhưng đã muộn. Cuộc giao chiến bắt đầu. Bên Liễu Hạnh có các thần bộ hạ đến giúp. Bên phía Tiền quan có hai ông anh cùng với bát bộ Kim Cang làm tiên phong, hai bên tả hữu có hắc hổ, bạch xà, trung tâm có lục đinh lục giáp. Sau ba ngày ba đêm chiến đấu, trời nổi mưa to lớn, bụi cát mù mịt, sấm sét đùng đùng, cây cối nhà cửa tơi tả, người vật chết khắp nơi, nước sông đỏ như máu. Cuối cùng, quân của Liễu Hạnh thất bại. Quỳnh Hoa, Quế Hoa bỏ chạy. Tiền quan ngồi trên voi chín ngà giục thần tượng đem lưới sắt vây bọc. Liễu Hạnh hóa làm một đứa trẻ nhưng bị đuổi kíp quá, lại hóa thành con rồng trốn trong một cái giếng. Tiền quan bắt được trói bằng dây đồng giải về kinh đô. Vua chúa đang ngồi trong điện bỗng thấy một đám mây đen đầu rồng đuôi lân, rơi xuống văng lên ba lần ở sân điện, biết là Tiền quan đã thắng trận.

Nhưng Phật tổ không muốn để con gái Ngọc Hoàng chịu sự trừng phạt của người trần, nên đã kịp thời xuống gặp ba anh em, bảo họ giao cho mình làm cho nàng cải tà quy chính.

Có người kể thêm đoạn kết như sau:

Khi Liễu Hạnh bị bắt thì Phật tổ hiện ra giải cứu. Ngọc sư (tức Tiền quan) vâng lời Phật tổ cho nàng một bộ áo cà sa, một cái mũ ni-cô để quy phật. Vì vậy, ngày nay ở nhiều chùa có dựng thêm điện ở phía sau để thờ Liễu Hạnh.

Ở vùng Hà-tĩnh, Quảng-bình trước đây, dân gian thường lưu truyền nhiều mẩu chuyện về một cô gái thỉnh thoảng hiện hình trêu ghẹo những khách bộ hành đàn ông, nhất là các thầy khóa, thầy cử đi lại trên đường quốc lộ. Ví dụ truyện Cô Doạt (Hà-tĩnh). Nàng Ha (Quảng-bình). Có người nói những mẩu chuyện ấy vốn xuất phát từ Sự tích công chúa Liễu Hạnh mà phát triển ra. Lưu Trọng Lư đã từng viết một truyện lãng mạn nhan đề là: Người nữ tỳ của bà chúa Liễu  có lẽ cũng hư cấu từ những truyện loại ấy.

Ở vùng Hà-đông cũng có lưu truyền nhiều mẩu chuyện về Liễu Hạnh, ví dụ một mẩu chuyện sau đây:

Liễu Hạnh bị một pháp sư lừa bắt được bỏ vào một cái lọ nút kín, phía ngoài dán bùa rồi treo lên cây đa ở rừng vắng trên đường đi Vạn-phúc. Có hai vợ chồng đi bán dâu qua đó, nghe tiếng nói văng vẳng phát ra: - "Các con đến đây cứu mẹ, mẹ sẽ hậu tạ". Hai vợ chồng trước sợ hãi, nhưng sau đánh bạo trèo lên cây, đưa lọ xuống. Khi đập vỡ lọ thì thấy có một con bướm trắng bay ra, tự xưng là Liễu Hạnh, rồi biến mất.

Ở nhà mình, pháp sư, do tín hiệu riêng, biết giờ chết đã đến vì Liễu Hạnh đã trốn thoát và sẽ báo thù. Bèn sai con đem tro sàng khắp nền nhà, đoạn tắm rửa sạch sẽ rồi lên giường nằm, đóng cửa lại, dặn vợ con đến giờ ngọ hãy mở ra. Khi vợ con mở cửa thì thấy pháp sư đã chết, trên nền nhà có dấu bàn chân đi lại chi chít, v.v....

Đền thờ công chúa Liễu Hạnh

Từ đỉnh Đèo Ngang theo quốc lộ 1A đi về hướng Nam khoảng 2km, rẽ trái theo con đường mòn gần 500m, ta sẽ tới đền Liễu Hạnh công chúa.  

Đền nằm dưới chân núi Đèo Ngang, ở một khu đất khá bằng phẳng, sát đường thiên lý Bắc - Nam trước đây, phía sau đền là dãy Hoành Sơn, ngay trước mặt là hồ nước ngọt của xã Quảng Đông, mặt đền quay hướng Nam cũng là hướng biển.

>> Xem ngay: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam đặc sắc nhất.

 
Cùng chuyên mục
Truyện Bụng làm dạ chịu - Truyện dân gian Việt Nam chọn lọc

Truyện Bụng làm dạ chịu - Truyện dân gian Việt Nam chọn lọc

Ngày xưa, có một anh chàng vô công rồi nghề, ngày ngày chỉ biết ăn bám vợ và kho...

Lê Quý Đôn giai thoại : Biết thì nói là biết… - Truyện cổ tích dân gian hay nhất việt nam

Lê Quý Đôn giai thoại : Biết thì nói là biết… - Truyện cổ tích dân gian hay nhất việt nam

Lê Quý Đôn tự cho mình là người hay chữ nhất vùng Thái Bình. Một hôm làng có hội...

Kể chuyện Phùng Khắc Khoan - Truyện cổ tích dân gian hay nhất việt nam

Kể chuyện Phùng Khắc Khoan - Truyện cổ tích dân gian hay nhất việt nam

Ngày xưa, vào đời Nhà Lê, ở làng Phùng Xá, đất Sơn Tây có một thư sinh tên là Ph...